Nhận Biết Chữa Trị Bệnh Rối Loạn Ám Ảnh Cưỡng Chế

rối loạn ám ảnh cưỡng chế

Vào những năm gần đây, các căn bệnh rối loạn lo âu ngày nhiều phổ biến hơn, không chỉ ở Việt Nam mà trên toàn thế giới.

Điển hình như bệnh rối loạn ám ảnh cưỡng chế hay gọi là bệnh OCD. Theo học viện Sức khỏe Tâm thần Mỹ, thì OCD cũng là một dạng rối loạn liên quan đến sự lo âu.

Căn bệnh tâm lý này đã không chỉ ảnh hưởng đến đời sống tinh thần của người bệnh mà còn gây ra những hành vi, suy nghĩ bất ổn.

Vậy bệnh rối loạn ám ảnh cưỡng chế là gì, ảnh hưởng như nào đến chúng ta, và bệnh này có nguy hiểm không, chữa trị như nào, cùng Bác Sĩ Lee tìm hiểu thông tin dưới đây.

Nhận Biết Bệnh Rối Loạn Ám Ảnh Cưỡng Chế

Rối loạn ám ảnh cưỡng chế là một bệnh rối loạn tâm thần liên quan đến cách suy nghĩ và hành vi của bệnh nhân.

Khi mắc bệnh, các suy nghĩ và nỗi sợ không mong muốn hay còn gọi là sự ám ảnh, xuất hiện liên tục và khiến bệnh nhân lặp đi lặp lại các hành động cưỡng chế.

Ví dụ như việc tự hỏi cửa đã khóa hay chưa làm bạn phải kiểm tra cửa vài lần. Người bệnh thường có thể cố gắng loại bỏ các suy nghĩ đó, nhưng điều này chỉ càng làm họ căng thẳng và lo lắng hơn. Cuối cùng, họ vẫn buộc phải thực hiện hành động để giải tỏa căng thẳng.

Hầu hết những người rối loạn ám ảnh cưỡng chế có cả nỗi ám ảnh cũng như là những hành vi cưỡng chế. Tuy nhiên cũng có một số người lại chỉ có ám ảnh hoặc cưỡng chế.

Những suy nghĩ ám ảnh phổ biến

  • Sợ vi trùng, bụi bẩn hoặc bị lây nhiễm từ người khác.
  • Sợ mất kiểm soát hoặc làm hại chính bản thân mình/người khác.
  • Những suy nghĩ hoặc hình ảnh bạo lực, khiêu dâm.
  • Tập trung quá mức vào các ý tưởng tôn giáo hoặc đạo đức.
  • Trật tự và đối xứng: có suy nghĩ rằng mọi thứ phải được sắp xếp theo hàng lối ngay lập tức.
  • Mê tín: quan tâm quá mức đến một số cái gọi là may mắn hoặc không may.

Những hành vi cưỡng chế phổ biến

  • Thường xuyên kiểm tra các đồ vật, thiết bị, khóa, công tắc.
  • Liên tục kiểm tra những người thân yêu để đảm bảo họ đang an toàn.
  • Đếm, gõ, lặp lại một số từ nhất định hoặc làm những việc vô nghĩa khác để giảm lo lắng.
  • Dành nhiều thời gian để rửa hoặc làm sạch đồ đạc.
  • Đặt hàng hoặc sắp xếp mọi thứ theo một trật tự nhất định.
  • Tích lũy rác thải như sách báo cũ, hộp đựng đồ ăn thức uống cũ.

Nguyên Nhân Gây Ra Bệnh Rối Loạn Ám Ảnh Cưỡng Chế

Thực tế, bệnh OCD xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Tuy nhiên, bệnh nhân có thể mắc bệnh bởi sự kết hợp từ nhiều lý do chứ không nhất thiết chỉ vì một điều gì đó.

Theo các nhà tâm thần học, bệnh OCD được gây ra do những nguyên nhân sau đây:

Yếu tố sinh học: sự thay đổi của não hoặc cơ thể khiến cho người bệnh xuất hiện những ý nghĩ ám ảnh và thực hiện những hành động vô nghĩa một cách cưỡng chế.

Yếu tố môi trường: dựa trên những nghiên cứu, các bác sĩ kết luận rằng bệnh OCD có thể xuất phát từ những hành vi được thực hiện trong thời gian dài hình thành nên thói quen. Điển hình như thói quen kiểm tra tắt bếp thường xuyên.

Yếu tố khác: những ý nghĩ mang tính chất hoang tưởng có thể xuất hiện ở bệnh nhân do sự thiếu hụt Serotonin – một chất hóa học rất cần thiết cho bộ não.

Ngoài ra, các bác sĩ cũng đưa ra bằng chứng cho thấy ở trẻ em bị nhiễm liên cầu khuẩn tán huyết beta và liên cầu nhóm A có khả năng mắc bệnh cao hơn so với những trẻ khác.

Tiền sử gia đình: có người thân, cha, mẹ, ông, ba có một trong những rối loạn về mặt tâm lý thì khả năng phát triển bệnh khá cao.

Các sự kiện trong đời sống có tính chất căng thẳng quá cao: đối với những người nhạy cảm, có những phản ứng mạnh mẽ khi đối diện với căng thẳng thì nguy cơ mắc bệnh càng cao.

Đặc biệt, chính những phản ứng này có thể làm nảy sinh những ý nghĩ xâm chiếm đời sống tinh thần khiến cho người bệnh cảm thấy mệt mỏi, bức bách.

Đồng thời, xuất hiện những hành vi mang tính ép buộc họ phải thực hiện.

Mặc dù vẫn chưa có cơ sở kết luận nhưng theo các bác sĩ, ở phụ nữ mang thai hoặc những người vừa trải qua giai đoạn sinh nở thường có khả năng mắc bệnh cao hơn người bình thường.

Điều Trị Bệnh Bệnh Rối Loạn Ám Ảnh Cưỡng Chế

Mặc dù các ý nghĩ ám ảnh và hành vi cưỡng chế thường đi chung với nhau , ở một số bệnh nhân nên xác định rõ nhóm triệu chứng nào là nổi bật vì chúng đáp ứng với những cách điều trị khác nhau.

Điều trị tâm lý: Các liệu pháp tâm lý, trong đó có liệu pháp tâm lý nâng đỡ có kết quả trong điều trị rối loạn ám ảnh cưỡng chế, giúp cho người bệnh có thể tiếp tục làm việc và thích ứng với xã hội.

Chỉ khi nào có các nghi thức ám ảnh hoặc lo âu nặng nề thì mới cần nhập viện và sự tách khỏi các sang chấn từ môi trường bên ngoài sẽ làm giảm bớt các triệu chứng.

Ngoài ra, tâm lý liệu pháp còn phải chú ý đến gia đình người bệnh cung cấp cho họ sự nâng đỡ về tâm lý, an ủi, giải thích và hướng dẫn cho họ cách cư xử với người bệnh nhằm làm giảm bớt các xung đột gia đình do rối loạn gây ra.

Điều trị hành vi: Nhiều tác giả cho điều trị hành vi là điều trị ưu tiên đối với rối loạn ám ảnh cưỡng chế. Điều trị hành vi có thể được tiến hành cả ở khoa nội trú lẫn ngoại trú và có kết quả trong 60 – 75% các trường hợp.

Các phương pháp giải mẫn cảm, gây ngập lụt flooding, tạo phản xạ ghê sợ, có thể được dùng cho những bệnh nhân này.

Một số tác giả dùng phương pháp ngăn chặn đáp ứng “response prevention” trong đó đôi khi người bệnh bị buộc không được thực hiện các hành vi cưỡng chế.

Điều trị bằng thuốc: Được sử dụng như là phương pháp điều trị hàng đầu đối với rối loạn ám ảnh cưỡng chế. Việc điều trị phải tiếp tục trong thời gian từ 6 – 12 tháng trước khi dự định ngưng thuốc.

Một số thuốc để điều trị Rối loạn ám ảnh cưỡng chế như Clomipramine, thuốc chống trầm cảm tác dụng trên hệ SerotoninergicPhenelzine. Tùy vào từng bệnh nhân mà bác sĩ sẽ chọn một loại phù hợp với tình trạng bệnh.

Điều trị bằng phẫu thuật: Chỉ dùng cho những bệnh nhân bị rối loạn nặng nhất và không đáp ứng với tất cả các phương pháp điều trị trên.

Phẫu thuật thần kinh nhằm làm gián đoạn đường liên lạc giữa đôi thị thùy trán được ghi nhận là có hiệu quả ở những bệnh nhân này.

Rối loạn ám ảnh cưỡng chế là một rối loạn tâm thần khá thường gặp và gây nhiều trở ngại trong cuộc sống hằng ngày.

Nếu bạn có các dấu hiệu trên, hãy đến thăm khám ở bác sĩ tâm thần để được chẩn đoán và điều trị kịp thời.

Bình luận